Luật phá sản năm 2014 đã được thông qua ngày 19/6/2014 tại kì họp thứ 7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 và thay thế Luật phá sản năm 2004.

phá sản

Luật phá sản năm 2014 gồm 14 chương, 133 điều, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Thay đổi quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quy định rõ hơn về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng, quy định rõ việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có một trong những văn bản như: Văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt; văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán; văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Quy định này phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Về đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:

         + Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán;

        + Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán;

        +  Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán; cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ tổ chức tín dụng quy định;

         + Thành viên hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Ngoài ra, Luật phá sản 2014 cũng quy định trường hợp tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ngân hàng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đó.

Thứ hai, quy định rõ thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, tức là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán; việc nộp đơn có thể trực tiếp tại Tòa án hoặc thông qua đường bưu điện.

Thứ ba, về hoàn trả khoản vay đặc biệt:  Trên cơ sở tính chất của khoản vay đặc biệt và phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật phá sản 2014 đã quy định rõ khoản cho vay đặc biệt được hoàn trả cho ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản còn lại của tổ chức tín dụng phá sản theo quy định.

Thứ tư, về thứ tự phân chia tài sản:  Do đặc thù của hoạt động ngân hàng, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản tổ chức tín dụng cũng khác với doanh nghiệp thông thường. Để bảo đảm quyền lợi cho đối tượng gửi tiền tại tổ chức tín dụng và tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, Luật phá sản 2014 quy định các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản được ưu tiên chi trả trước các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Theo đó, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản tổ chức tín dụng được thực hiện theo thứ tự: Chi phí phá sản; khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước; nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên, các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Thứ năm, về việc trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ khi tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản phá sản: Luật phá sản 2014 quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản, chủ sở hữu tài sản ủy thác cho tổ chức tín dụng, gửi tổ chức tín dụng giữ hộ, giao tổ chức tín dụng quản lý thông qua hợp đồng ủy thác, giữ hộ, quản lý tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và hồ sơ, giấy tờ liên quan với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.

Thứ sáu, về giao dịch của tổ chức tín dụng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt: Luật phá sản 2014 quy định về giao dịch bị coi vô hiệu nhằm ngăn chặn trường hợp doanh nghiệp cố tình tẩu tán tài sản trước phá sản, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ của tổ chức bị phá sản. Tuy nhiên, đối với tổ chức tín dụng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, các giao dịch tổ chức tín dụng được thực hiện dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước là Ngân hàng nhà nước và đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng. Do đó, Luật phá sản 2014 quy định giao dịch của tổ chức tín dụng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng nhà nước áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán dưới sự kiểm soát của ngân hàng Nhà nước sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu.

Thứ bảy, về quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản: Luật phá sản 2014 quy định Tòa án không áp dụng thủ tục Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản. Quy định này nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết phá sản tổ chức tín dụng, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ nợ của tổ chức tín dụng và phù hợp đặc thù của tổ chức tín dụng.

 Tóm lại, Luật phá sản 2014 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, được kỳ vọng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước những rủi ro trong kinh doanh.

Nguồn: vksndthaibinh.gov.vn


CÔNG TY HỢP DANH QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN SÀI GÒN (SGI)

Trụ sở: 280C12 Lương Định Của, phường An Phú, TP. Thủ Đức, TP.HCM

Hotline: 0966 288 855

Điện thoại: 0911 945 499

Tổng đài: 1900 252 503 (Nhánh số 3)

Website: http://tuvanphasan.vn/http://phasan.com.vn/http://tuvanphasan.com/

Email: saigoninsol@gmail.com  

Facebook: https://www.facebook.com/quantaivienSaigon

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *